Cần một chiến lược tổng thể để thu hút đầu tư

Trong khi nhu cầu vốn cho đầu tư XDCB giao thông ngày càng lớn, nguồn lực nhà nước, thu hút vốn ODA hạn hẹp dần, chính vì vậy, các cơ quan chức năng trong lĩnh vực này cần có cái nhìn tổng thể, khách quan và một chiến lược tổng thể tìm lời giải cho bài toán này.

Hiện nay, nhu cầu cho đầu tư cơ sở hạ tầng của Việt Nam khoảng 16 tỷ USD/năm trong khi khả năng đáp ứng của Nhà nước chỉ khoảng 7-8 tỷ USD. Từ nay đến năm 2020, vốn đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng ước tính còn chiếm khoảng từ 10- 11% GDP, nên khả năng thiếu hụt vốn là hoàn toàn hiện hữu.

Tại cuộc họp tổng kết ngành GTVT đầu năm 2010, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải cho rằng, dù trong cả năm 2009, cả nước đã dành 60 nghìn tỷ đồng để đầu tư vào hạ tầng nhưng so với nhu cầu vẫn còn rất hạn chế. Việc thiếu vốn đầu tư cho hạ tầng giao thông chính là điểm nghẽn lớn của xã hội. Chính vì vậy, nếu không tìm được các nguồn vốn mới, trong những năm sắp tới sẽ không thể đáp ứng nhu cầu thực tiễn.

Tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia trong lĩnh vực XDCB, để tháo được điểm nghẽn này không phải là điều giản đơn bởi trong lúc nguồn vốn từ ngân sách chắc chắn sẽ ngày càng hạn hẹp, vốn ODA không thể nhiều như trước đây thì PPP vẫn chưa thực sự được triển khai và khẳng định được ưu thế.

Một số hình thức đầu tư khác như BOT, BTO, BT dù đã triển khai nhiều năm nhưng vẫn chưa phát huy hiệu quả như mong muốn, tỷ trọng vốn từ các hình thức này vẫn rất thấp so với vốn ngân sách và ODA. Chính vì vậy, Chính phủ, các bộ, ngành, cơ quan chức năng cần có một chiến lược tổng thể để kích cầu đầu tư, thu hút vốn từ mọi nguồn lực cho công tác hạ tầng giao thông.

Trong thời điểm hầu hết các ngành, lĩnh vực đều đua nhau thu hút vốn thì không còn cách nào khác, lĩnh vực xây dựng giao thông cũng phải có sự kích cầu và cạnh tranh với các ngành nghề khác để thu hút nguồn vốn trong xã hội.

Thời gian vừa qua, đầu tư vào lĩnh vực XDCB giao thông vẫn được coi là còn quá nhiều rủi ro. Rất nhiều nhà đầu tư cả trong và ngoài nước có ý định tham gia đầu tư vào lĩnh vực XDCB giao thông, đặc biệt là tại các dự án đường cao tốc lớn, tuy nhiên khi tìm hiểu cơ chế, chính sách, thủ tục của Việt Nam thì đều tỏ ra quan ngại và rời bỏ ý định đầu tư.

Nhiều dự án giao thông lớn đầu tư theo hình thức BOT, BTO, BT trong những năm vừa qua chưa đạt hiệu quả, dự án càng lớn thì hiệu quả càng ít. Còn với PPP, dù cách đây 2- 3 năm, rất nhiều doanh nghiệp ngấp nghé tham gia nhưng cho đến nay vẫn rất ít doanh nghiệp nước ngoài và các đơn vị lớn trong nước vào cuộc. Lý do dẫn đến những điều này không gì khác chính là cơ chế thu hút vốn đầu tư cho các dự án giao thông chưa hấp dẫn và còn quá nhiều bất cập.

Dù đã được quan tâm sửa đổi nhiều lần, nhưng các văn bản pháp luật liên quan đến cơ chế đầu tư XDCB còn rườm rà, thủ tục phức tạp, một số cán bộ của cơ quan chức năng còn gây khó khăn,... Hơn nữa, cơ chế hoàn vốn cho các nhà đầu tư không thống nhất và còn tùy tiện, dự án này một kiểu, dự án kia lại một kiểu khác. Việc thu phí để hoàn vốn cho nhà đầu tư chưa thật sự hấp dẫn, thời gian thu phí kéo dài.

Ngoài ra, công tác GPMB vướng mắc ở hầu hết các dự án, có dự án kéo dài cả chục năm do không giải phóng được mặt bằng,... Tất cả những điều trên có thể là những yếu tố rủi ro có thể dễ dàng nhận thấy và là lực cản các nhà đầu tư bỏ túi tiền của mình để tham gia.

Theo nhiều chuyên gia trong lĩnh vực XDCB giao thông, Chính phủ và các cơ quan chức năng cần có chiến lược tổng thể về điều này. Cần phải tiếp tục sửa đổi, bổ sung cơ chế chính sách trong đầu tư xây dựng, cải cách thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng bộ máy công chức, có cơ chế thông thoáng hơn để thu hút mọi nguồn vốn đầu tư.

Mặt khác trong tình hình thực tế cũng không nên đặt quá nặng vấn đề phải huy động lượng vốn lớn trong một thời gian ngắn, từ đó tạo áp lực không nhỏ cho chính các cơ quan chức năng.

Trước mắt, dù nguồn vốn hạn hẹp, nhưng Chính phủ và các cơ quan chức năng vẫn phải “thắt lưng buộc bụng” để ưu tiên cho phát triển hạ tầng giao thông, đặc biệt là các dự án đang triển khai và các dự án quan trọng, có tầm chiến lược.

 

  • TAG :