Đấu thầu và lựa chọn nhà thầu theo Luật Xây dựng

Luật Đấu thầu có hiệu lực từ 1/4/2006, tiếp theo ngày 29/9/2006 Chính phủ đã ban hành Nghị định 111/2006/NĐ - CP hướng dẫn thi hành Luật Đấu thầu và lựa chọn nhà thầu theo Luật Xây dựng. Tuy nhiên trong quá trình triển khai các văn bản trên ở một số ngành, địa phương đã nảy sinh


 những hiện tượng mang tính cục bộ, áp đặt chủ quan... không phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam cũng như tiến trình hội nhập với quốc tế, phản ánh qua một số thực trạng sau đây: 

- Khi áp dụng Luật Đấu thầu đối với các gói thầu thuộc dự án đầu tư XDCT (bao gồm các gói thầu tư vấn, xây dựng và mua sắm thiết bị) một số ngành, địa phương đã không quan tâm đến các đặc thù về đấu thầu các gói thầu thuộc các dự án đầu tư XDCT trong đó nổi lên việc thực hiện quy trình quản lý đầu tư XDCT và vấn đề hợp đồng, thanh toán các gói thầu trong hoạt động xây dựng được quy định tại Luật Xây dựng, các Nghị định của Chính phủ và các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ chuyên ngành đã gây ra tình trạng trì trệ trong giải ngân các dự án đầu tư xây dựng, đặc biệt là các dự án thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước thuộc một số ngành và địa phương hiện nay (bao gồm cả các dự án thuộc nguồn vốn ODA). 

- Việc chống khép kín trong đấu thầu được quy định trong Luật Đấu thầu cần được quan tâm xem xét và chỉ đạo cụ thể hơn và có lộ trình thích hợp nếu không đây cũng là vấn đề bức xúc nảy sinh hiện nay ở các ngành địa phương và cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng làm chậm tiến độ triển khai các dự án đầu tư XDCT cũng như đảm bảo chất lượng công trình. Cụ thể: 

+ Về chống khép kín trong một tổ chức: Luật Đấu thầu quy định “nhà thầu tham gia đấu thầu các gói thầu thuộc dự án phải độc lập về tổ chức, không cùng phụ thuộc vào một cơ quan quản lý và độc lập về tài chính với chủ đầu tư của dự án” (Điều 11 - khoản 1 - mục d) quy định này là hoàn toàn phù hợp với luật pháp Việt Nam cũng như các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã và đang thực hiện. Tuy nhiên cũng tại khoản 2 - điều này của Luật Đấu thầu lại quy định: “Các quy định tại khoản 1 điều này phải được thực hiện chậm nhất là 3 năm theo lộ trình do Chính phủ quy định kể từ khi Luật này có hiệu lực” (kể từ 1/4/2006) quy định này cần làm rõ phải áp dụng ngay cho loại chủ đầu tư nào? Và chủ đầu tư nào chưa áp dụng ngay cần phải có lộ trình (Bộ, UBND các cấp, Sở, Doanh nghiệp...) hiện vấn đề đang trở nên rất bức xúc trong thực tế gây trở ngại trong việc triển khai đấu thầu các dự án đầu tư XDCT. 

+ Về chống khép kín giữa các khâu trong quy trình quản lý đầu tư và xây dựng. Luật Đấu thầu quy định: “Nhà thầu tư vấn lập báo cáo nghiên cứu khả thi được tham gia đấu thầu cung cấp dịch vụ tư vấn lập thiết kế kỹ thuật của dự án, nhà thầu tư vấn đã tham gia thiết kế kỹ thuật của dự án không được tham gia đấu thầu các bước tiếp theo, trừ trường hợp đối với gói thầu EPC” (Điều 11) quy định này là chưa phù hợp với xu thế của thế giới, ngược lại họ thường gắn thiết kế và xây dựng; Thiết kế, mua sắm thiết bị và xây dựng hoặc lập dự án - thiết kế - mua sắm thiết bị và xây dựng; Trong khi các phương pháp quản lý này ở ta lại rất mới mẻ xa lạ mà mới chỉ được định hướng về luật pháp (Luật Xây dựng và các văn bản hướng dẫn), chính vì lẽ đó với quy định trên quy trình quản lý dự án đầu tư đang được chặt khúc từng đoạn riêng rẽ, manh mún đang là trở ngại cho việc đẩy nhanh tiến độ và quản lý chất lượng các dự án thuộc các ngành, các địa phương hiện nay. Vì lý do đó một mặt các ngành, các địa phương cần mạnh dạn hơn trong việc áp dụng các hình thức đấu thầu để lựa chọn Tổng thầu (thiết kế và xây dựng, EPC hoặc Chìa khoá trao tay) mặt khác cần có hướng dẫn cụ thể về lộ trình thực hiện điều khoản này trong luật định cho phù hợp với thực tế không để làm chậm việc triển khai hàng loạt các dự án tại các ngành, các địa phượng hiện nay. 

- Về áp dụng các hình thức hợp đồng và phương thức thanh toán trong các gói thầu thuộc các dự án đầu tư XDCT ở một số ngành, địa phương hiện nay rất sơ lược, chủ quan, mang nặng tính áp đặt thể hiện phổ biến qua việc vận dụng tràn lan hình thức Hợp đồng trọn gói với giá trị hợp đồng được dựa trên bảng tiên lượng thường có quá nhiều sai sót và hệ thống đơn giá không được điều chỉnh phù hợp với biến động của thị trường dồn mọi rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng cho các nhà thầu và các cấp quản lý trực tiếp, nhưng lại không đủ quyền hạn để xử lý các rủi ro khách quan đã góp phần dẫn đến hậu quả làm chậm tiến độ và chất lượng công trình kém, đặc biệt là các dự án thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước. 

- Để đảm bảo việc thực thi đúng đắn hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước về quản lý dự án đầu tư XDCT và đấu thầu, lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng cần quán triệt một số nguyên tắc pháp lý sau đây: 

Luật Đấu thầu (bao gồm các văn bản hướng dẫn) là luật chung quy định về các hoạt động đấu thầu để lựa chọn cung cấp dịch vụ tư vấn, mua sắm hàng hoá, xây lắp đối với các gói thầu sử dụng vốn nhà nước từ 30% trở lên cho mục tiêu phát triển; Chi việc mua sắm tài sản nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, chính trị - xã hội - nghề nghiệp... đơn vị vũ trang nhân dân, các hoạt động mua sắm tài sản phục vụ việc cải tạo, sửa chữa lớn các thiết bị, dây chuyền sản xuất ... của doanh nghiệp Nhà nước. 

Luật Xây dựng (bao gồm các văn bản hướng dẫn) là Luật chuyên ngành quy định cho các hoạt động trong xây dựng (trong đó bao gồm cả việc lựa chọn nhà thầu) như lập quy hoạch xây dựng, lập dự án Đầu tư Xây dựng công trình (viết tắt ĐTXDCT), khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng, thi công XDCT, giám sát thi công XDCT, quản lý dự án ĐTXDCT... 

Theo đó Luật Đấu thầu đã quy định: 
- “Trường hợp các đặc thù về đấu thầu quy định ở luật khác thì áp dụng theo quy định của luật đó” (Điều 3 – khoản 2 – Luật Đấu thầu). 
- “Đối với dự án sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (gọi tắt là ODA) việc đấu thầu được thực hiện trên cơ sở điều ước quốc tế mà... Việt Nam đã ký kết” (Điều 3 – khoản 2 – Luật Đấu thầu) 
Sau đây là một số tình huống cụ thể: 

1. Về tư cách hợp lệ của nhà thầu:
Theo Luật Đấu thầu yêu cầu các nhà thầu hợp lệ để tham gia đấu thầu phải có đăng ký kinh doanh..., hạch toán kinh tế độc lập và không bị cơ quan có thẩm quyền kết luận... (Điều 7 – khoản 1, 2, 3 Luật Đấu thầu). Tuy nhiên trong thực tế mặc dù các Công ty thành viên trong Tổng Công ty, hoặc thuộc Công ty mẹ đều có đủ các điều kiện trên chỉ có thể tham gia đấu thầu rộng rãi trong một gói thầu, nhưng lại bị cấm khi tham gia đấu thầu hạn chế trong một gói thầu và chỉ một nhà thầu được tham gia (Điều 100 - khoản 2 - Luật Xây dựng). 

2. Về chống “khép kín” trong đấu thầu:
Theo Luật Đấu thầu nghiêm cấm nhà thầu tham gia cung cấp hàng hoá, xây lắp cho gói thầu do mình cung cấp dịch vụ tư vấn, trừ trường hợp đối với gói thầu EPC (Điều 12 – khoản 8). Điều này đúng nhưng chưa đủ cần áp dụng quy định sau: Cấm tham gia hoạt động đấu thầu... đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây: “Chủ đầu tư bên mời thầu chấp nhận và đề nghị trúng thầu đối với nhà thầu tham gia đấu thầu cung cấp hàng hoá, xây lắp cho gói thầu thuộc dự án mà nhà thầu này trước đó đã cung cấp dịch vụ tư vấn trừ trường hợp đối với gói thầu EPC, gói thầu lựa chọn Tổng thầu thiết kế và thi công (EC), Tổng thầu chìa khoá trao tay” (lập dự án, thiết kế, mua sắm thiết bị và thi công xây dựng công trình). Điều 53 – khoản 1 – NĐ111/2006 của Chính phủ. 

Một quy định khác về chống khép kín: Theo Luật Đấu thầu, nhà thầu tư vấn lập Báo cáo nghiên cứu khả thi (tức lập dự án đầu tư XDCT) thì không được tham gia đấu thầu cung cấp dịch vụ tư vấn lập thiết kế kỹ thuật của dự án, nhà thầu tư vấn đã tham gia thiết kế kỹ thuật của dự án không được tham gia đấu thầu các bước tiếp theo, trừ trường hợp đối với gói thầu EPC (Điều 11 - khoản 1 - mục a - Luật Đấu thầu) cũng áp dụng như trên điều này đúng, nhưng chưa đủ mà phải áp dụng theo Điều 53 Nghị định 111/2006/của Chính phủ như trên đã đề cập. 

3. Về lập kế hoạch đấu thầu và chấp hành trình tự đầu tư XDCT theo Luật Xây dựng (Xem phụ lục). 
3.1 Về phân kỳ đầu tư và phân chia gói thầu: 
Đối với các dự án quan trọng quốc gia (theo quy định của QĐ 66 của Quốc hội) và các dự án Đầu tư XDCT thuộc nhóm A cần kết hợp chặt chẽ giữa phân kỳ đầu tư (Điều 2 - khoản 4 -NĐ16/2005/NĐ - CP) với việc phân chia gói thầu (Điều 6 - khoản 4 - Luật Đấu thầu) đặc biệt các gói thầu lớn khi lựa chọn Tổng thầu chìa khoá trao tay, EPC hoặc thiết kế và xây dựng. Theo đó “đối với các dự án... nhóm A gồm nhiều dự án thành phần, nếu từng dự án thành phần có thể độc lập vận hành, khai thác hoặc thực hiện theo phân kỳ đầu tư được ghi trong văn bản phê duyệt Báo cáo đầu tư thì mỗi dự án thành phần được quản lý thực hiện như một dự án độc lập” (Điều 2 - khoản 4 – NĐ 16 CP) và “việc căn cứ theo tính chất kỹ thuật, trình tự thực hiện, bảo đảm tính đồng bộ của dự án và có quy mô gói thầu hợp lý”. (Điều 6 – khoản 4 - Luật Đấu thầu). 

3.2. Về căn cứ để lập kế hoạch đấu thầu:
Phải dựa trên yêu cầu của mỗi giai đoạn đầu tư (chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư, đưa dự án vào khai thác sử dụng) và mỗi bước thiết kế (Thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công). 
“Kế hoạch đấu thầu phải được người có thẩm quyền phê duyệt bằng văn bản sau khi đã phê duyệt quyết định đầu tư hoặc phê duyệt đồng thời với quyết định đầu tư trong trường hợp đủ điều kiện, làm cơ sở pháp lý cho chủ đầu tư tổ chức lựa chọn nhà thầu, trừ gói thầu cần thực hiện trước khi có quyết định đầu tư (như gói thầu tư vấn lập dự án...) Kế hoạch đấu thầu được lập cho toàn bộ dự án, trường hợp chưa đủ điều kiện và cần thiết thì được phép lập kế hoạch đấu thầu cho một số gói thầu để thực hiện trước” (Điều 6 - Luật Đấu thầu) riêng các gói thầu xây lắp sẽ được thực hiện sau khi có Thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công, tổng dự toán, dự toán được chủ đầu tư phê duyệt. Để có đủ căn cứ lập kế hoạch đấu thầu phù hợp với quy định về trình tự đầu tư XDCT và phù hợp với mỗi bước thiết kế theo Luật Xây dựng, cần thực hiện quy trình cụ thể sau đây: 

3.2.1. Giai đoạn tiền đầu tư (trước khi lập dự án): Lập KHĐT gói thầu lựa chọn tư vấn Lập dự án – giá gói thầu áp dụng tỷ lệ % quy định tại QĐ11/2005/BXD (nhân với) x (chi phí xây dựng + chi phí thiết bị) được tính dựa trên Suất đầu tư hoặc chi phí xây dựng và thiết bị của các dự án tương tự) theo đó áp dụng hình thức: Hợp đồng trọn gói, phương thức lựa chọn nhà thầu hai túi hồ sơ (Nếu gói thầu > 500 triệu đồng). 

3.2.2. Giai đoạn chuẩn bị đầu tư: Sau khi dự án Đầu tư XDCT được phê duyệt – Lập KHĐT để lựa chọn: 
- Tổng thầu EPC hoặc EC. Giá gói thầu căn cứ trên Tổng mức đầu tư được duyệt (chi phí xây dựng, chi phí thiết bị, chi phí QLDA và chi phí khác) theo đó áp dụng hình thức hợp đồng trọn gói, , phương thức lựa chọn nhà thầu 1 túi hồ sơ, đấu thầu 1 giai đoạn hoặc 2 giai đoạn. 
- Tư vấn khảo sát: Giá gói thầu: Lập dự toán theo hướng dẫn về lập dự toán công tác khảo sát của Bộ Xây dựng, áp dụng hợp đồng trọn gói, phương thức lựa chọn nhà thầu hai túi hồ sơ. 
- Tư vấn thiết kế hoặc tư vấn giám sát thi công xây dựng và lắp đặt thiết bị giá gói thầu áp dụng tỷ lệ % quy định trong QĐ11/2005/BXD nhân với chi phí xây dựng và chi phí thiết bị trong Tổng mức đầu tư phê duyệt. Theo đó áp dụng đấu thầu một giai đoạn, phương thức lựa chọn nhà thầu 2 túi hồ sơ - 1 giai đoạn. 

3.2.3. Giai đoạn thực hiện đầu tư: Sau khi thiết kế kỹ thuật và Tổng dự toán được phê duyệt – Lập KHĐT lựa chọn nhà thầu thi công xây dựng, lắp đặt thiết bị. Giá gói thầu dựa trên tổng dự toán được phê duyệt (trường hợp thiết kế 3 bước) theo đó áp dụng hình thức hợp đồng theo đơn giá hoặc hợp đồng điều chỉnh giá vì hồ sơ mời thầu được lập ở bước thiết kế kỹ thuật chưa đảm bảo độ chính xác cần thiết, phương thức lựa chọn nhà thầu 1 túi hồ sơ, đấu thầu 1 giai đoạn. 

- Sau khi thiết kế bản vẽ thi công được duyệt – Lập KHĐT lựa chọn nhà thầu thi công xây dựng, lắp đặt thiết bị. Giá gói thầu: Tổng dự toán, Dự toán được duyệt (trường hợp thiết kế 2 bước) áp dụng hợp đồng trọn gói (vì hồ sơ mời thầu được lập ở bước thiết kế bản vẽ thi công đã đảm bảo độ chính xác cần thiết) phương thức lựa chọn nhà thầu một túi hồ sơ; đấu thầu 1 giai đoạn đối với các công việc được xác định rõ về khối lượng như xây, trát, ốp... đổ bê tông, áp dụng hợp đồng theo đơn giá hoặc hợp đồng điều chỉnh giá đối với các công tác đào đắp đất, đá, đóng cọc, khoan cọc, ép cọc... 

Cần lưu ý việc áp dụng các hình thức hợp đồng trong hoạt động xây dựng phải được áp dụng theo Luật Xây dựng và các văn bản hướng dẫn liên quan theo chuyên ngành gần đây như nghị định 99/2007/NĐ - CP về quản lý chi phí dự án đầu tư XDCT và các thông tư hướng dẫn bao gồm cả các hình thức hợp đồng và phương thức thanh toán trong hoạt động xây dựng. Các dự án sử dụng vốn đầu tư phát triển chính thức (ODA) thực hiện theo quy định của nhà tài trợ tức điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, theo đó đối với các dự án giao thông, thuỷ lợi thường được lập hồ sơ mời thầu ở giai đoạn thiết kế kỹ thuật, hình thức hợp đồng thường áp dụng là hợp đồng điều chỉnh giá với những quy định rõ ràng phạm vi điều chỉnh và công thức điều chỉnh. 
Lập kế hoạch đấu thầu phù hợp với trình tự đầu tư XDCT. 

Phụ lục 
Giai đoạn tiền đầu tư. Giai đoạn chuẩn bị đầu tư. Giai đoạn chuẩn bị đầu tư. Đấu thầu lựa chọn nhà thầu tư vấn lập quy hoạch, lập dự án đầu tư XDCT. Sau khi dự án đầu tư XDCT được phê duyệt: 
Đấu thầu lựa chọn Tổng thầu EPC, EC (1). 
Đấu thầu thiết bị (2) 
Đấu thầu tuyển chọn tư vấn: 
+ Khảo sát (3) 
+ Thiết kế (4) 
+ Giám sát thi công xây dựng, lắp đặt thiết bị (5). Sau khi thiết kế kỹ thuật – Tổng dự toán được phê duyệt. 
+ Đấu thầu xây lắp. Hình thức hợp đồng trọn gói (đối với các công việc xác định rõ khối lượng) hình thức hợp đồng theo đơn giá, hợp đồng điều chỉnh giá (đối với các công việc chưa xác định rõ khối lượng) (2). Giá gói thầu: tỷ lệ % (QĐ11/2005/BXD) x (chi phí xây lắp và chi phí thiết bị) ước tính dựa trên suất đầu tư hoặc các dự án tương tự 

(1). Giá gói thầu: tổng mức đầu tư được phê duyệt. 
(2) Giá gói thầu: giá trị thiết bị trong tổng mức đầu tư được phê duyệt. 
(3) Giá gói thầu: lập dự toán theo quy định của Bộ Xây dựng. 
(4) Giá gói thầu: tỷ lệ % (QĐ11/2005/BXD) x (chi phí xây dựng hoặc chi phí thiết bị trong tổng mức đầu tư được phê duyệt. 
(5) Giá gói thầu: tỷ lệ % (QĐ10/2005/BXD) x (chi phí xây dựng hoặc chi phí thiết bị trong tổng mức đầu tư được phê duyệt. Giá gói thầu (1): tổng dự toán được duyệt. 
Giá gói thầu (2): tổng dự toán, dự toán được duyệt. (Nguồn: TC Xây dựng, số 7/2007)
  • TAG :

Danh mục

Loading...

Bài nổi bật