Doanh nghiệp tư nhân: Sao chậm lớn?

Doanh nghiệp tư nhân nước ta đã được định vị từ năm 1990 khi Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty được ban hành. Sau khi Luật Doanh nghiệp 1999 ra đời, doanh nghiệp tư nhân có bước phát triển khá nhanh.



Luật Doanh nghiệp 2005 đã đặt doanh nghiệp tư nhân lên một vị thế mới: bình đẳng trong kinh doanh với doanh nghiệp nhà nước. Tuy vậy, nhìn lại sau gần 20 năm, doanh nghiệp tư nhân nước ta tuy có đông về số lượng nhưng vẫn còn quá nhỏ bé.

Thực trạng

Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đến hết tháng 6 năm 2008, cả nước có 349.309 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh với số vốn 1.389.000 tỉ đồng, tương đương 84 tỉ USD. Có khoảng 87% là doanh nghiệp nhỏ và vừa (theo tiêu chí vốn đăng ký không quá 10 tỉ đồng và số công nhân không quá 300 người), còn 13% doanh nghiệp nước ta được coi là lớn, nhưng cũng chỉ thuộc loại nhỏ và vừa của các nước khác trên thế giới (theo tiêu chuẩn của Hoa Kỳ, doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có dưới 500 công nhân).

Theo kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới, một nền kinh tế có chất lượng bền vững luôn luôn có sự phát triển hài hòa giữa các doanh nghiệp thuộc loại hình lớn, nhỏ và vừa; nhất là có sự phân công, hợp tác, liên kết chặt chẽ giữa các loại hình doanh nghiệp nói trên. Doanh nghiệp nhỏ và vừa thường làm vệ tinh cho các doanh nghiệp lớn, có những sản phẩm như ôtô, máy tính, máy công cụ… được lắp ráp bằng linh kiện sản xuất ở nhiều doanh nghiệp khác nhau, thậm chí ở nhiều nước khác nhau.

Ở nước ta, việc phát triển doanh nghiệp chắc cũng phải tuân theo quy luật đó. Nền kinh tế nước ta, muốn lớn mạnh, nhất thiết phải dựa vào sự lớn mạnh của các doanh nghiệp, kể cả sự lớn mạnh về quy mô vốn kinh doanh, về quy mô lao động và nhất là về hiệu quả kinh doanh; phải có sự phát triển đồng bộ, hài hòa giữa các loại doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa và quy mô lớn.

Chúng ta đặc biệt coi trọng các doanh nghiệp nhỏ và vừa do những ưu thế của loại doanh nghiệp này, nhưng cũng rất cần quan tâm trợ giúp các doanh nghiệp tư nhân phát triển thành những doanh nghiệp lớn; đó có thể là những doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần.

Hiện nay, phần rất lớn doanh nghiệp vẫn là nhỏ và vừa, quá ít doanh nghiệp lớn, điều đó chứng tỏ (i) chúng ta chưa huy động được phần vốn đang còn rất lớn trong dân vào sản xuất, kinh doanh, người dân chưa mặn mà với những lĩnh vực đầu tư kinh doanh một cách cơ bản, lâu dài; (ii) môi trường thể chế, chính sách, những biện pháp trợ giúp chưa đủ hấp dẫn nhà đầu tư tư nhân bỏ vốn lớn vào kinh doanh, cho nên nhà đầu tư tư nhân vẫn chỉ đầu tư ở mức nhỏ lẻ, nhất thời;

(iii) vẫn còn những phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp nhà nước với doanh nghiệp tư nhân, sự cạnh tranh diễn ra thiếu bình đẳng, doanh nghiệp tư nhân thường chịu thiệt thòi; (iv) bộ máy hành chính nhà nước chưa đủ thân thiện với doanh nghiệp tư nhân, kể cả các ngành chức năng và cơ quan nhà nước ở địa phương; và (v) cũng còn thiếu những hướng dẫn cụ thể về các biện pháp phát triển doanh nghiệp về quy mô, cơ cấu lại sở hữu doanh nghiệp, về liên kết, liên minh chiến lược, sáp nhập, cho đến cơ chế quản trị nội bộ doanh nghiệp lớn, kể cả những biện pháp phát triển thương hiệu, xây dựng đội ngũ nhân lực…

Làm sao lớn nhanh?

Trên thị trường toàn cầu ngày nay, khi cuộc cạnh tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng gay gắt, nhất là để trụ vững trong khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế ngày nay, sự vững mạnh của doanh nghiệp Việt Nam là hết sức cần thiết để bảo đảm khả năng cạnh tranh của cả nền kinh tế. Khả năng cạnh tranh của Việt Nam đang bị đe dọa và có thể yếu đi, vì chúng ta đang thiếu những doanh nghiệp tư nhân lớn mạnh đủ sức cạnh tranh, trong khi doanh nghiệp nhà nước được dồn nhiều nguồn lực song sức cạnh tranh lại quá yếu.

Tình hình mới càng đòi hỏi môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp nhỏ phát triển lên vừa, rồi doanh nghiệp vừa lên doanh nghiệp lớn. Chúng ta rất cần có những doanh nghiệp tư nhân lớn, những tập đoàn kinh tế tư nhân vững mạnh đủ sức lôi cuốn đội ngũ doanh nghiệp nước ta chiến đấu và nâng cao thị phần trên thị trường quốc tế.

Trước tiên, một môi trường cạnh tranh bình đẳng là hết sức cần thiết cho việc hình thành những doanh nghiệp tư nhân lớn. Hiện nay, mặc dù Luật Doanh nghiệp 2005 đã đặt các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế cùng kinh doanh trên một sân chơi bình đẳng, cùng hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, nhưng trong thực tế, doanh nghiệp tư nhân vẫn còn lép vế so với doanh nghiệp nhà nước về nhiều mặt, đang làm méo mó môi trường kinh doanh.

Có thể ví dụ như về đất đai: khá nhiều vị trí đắc địa - những “khu đất vàng” được giao cho doanh nghiệp nhà nước, họ không những có lợi thế trong kinh doanh, lại được hưởng lợi trong việc cổ phần hóa (không tính giá trị sử dụng đất). Đó là những ưu ái trong việc vay vốn (có những khoản vốn ưu đãi) không phải thế chấp, lại được bảo lãnh để vay những khoản khá lớn vốn nước ngoài.

Nhà nước ta đã chủ trương làm rõ vai trò quản lý nhà nước, tách biệt chức năng quản lý nhà nước với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, chấm dứt sự can thiệp của cơ quan chủ quản (Bộ, UBND tỉnh, thành phố) vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nhưng xem ra, để làm được việc này, còn phải vượt qua nhiều trở ngai. Khi còn cơ chế chủ quản, khó tránh khỏi thiên vị khi phân bổ các nguồn lực; và như vậy, doanh nghiệp tư nhân sẽ không còn ở vị trí bình đẳng, khó tiếp cận các nguồn lực cần thiết; như vậy, làm sao mà lớn lên được?

Lại có ý kiến cho rằng doanh nghiệp tư nhân đang có nhiều yếu kém, như vốn liếng có hạn, không thể đảm đương được những công trình lớn, do vậy vẫn cần giao cho doanh nghiệp nhà nước thực hiện, tỏ ý chưa tin tưởng khả năng của doanh nghiệp tư nhân. Đúng là doanh nghiệp tư nhân vốn liếng có hạn, nhưng phải nói đến tiềm năng trí tuệ rất dồi dào của doanh nghiệp tư nhân mà người ta ít quan tâm.

Doanh nghiệp tư nhân đã có những thành công nhất định là do họ được điều hành bởi lớp người được đào tạo bài bản, có những doanh nhân ở độ tuổi 30 - 50 được đào tạo ở nước ngoài, kiến thức khá phong phú về kinh tế thị trường, luôn năng động, sáng tạo. Còn nói đến vốn liếng, tiềm năng của doanh nghiệp tư nhân cũng còn khá lớn, nhưng họ chỉ bỏ vốn đầu tư khi môi trường đủ tin cậy và ổn định.

Họ lại có khả năng huy động vốn, kể cả vốn trong nước và vốn của bà con ở nước ngoài để đầu tư cho những công trình lớn. Nếu như cơ quan nhà nước không tin tưởng ở tiềm năng dồi dào về trí tuệ cũng như vốn liếng của doanh nghiệp tư nhân - xin nhấn mạnh nhất là tiềm năng về trí tuệ; thì không thể có những cơ chế, chính sách phù hợp để doanh nghiệp tư nhân lớn mạnh.

Môi trường thuận lợi cho sự lớn mạnh của doanh nghiệp tư nhân không chỉ được quyết định bởi hệ thống thể chế, chính sách vĩ mô, mà còn được quyết định bởi vai trò quản lý, điều hành của chính quyền các cấp, nhất là cấp tỉnh, thành phố. Báo cáo Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2008 do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam công bố giữa tháng 12 năm 2008 cho thấy chỉ số về khuyến khích khu vực kinh tế tư nhân và chỉ số về đào tạo lao động đang giảm đi rõ rệt.

Điều đó đòi hỏi đẩy mạnh chống tham nhũng hơn nữa, tiếp tục cải cách hành chính, làm trong sạch bộ máy, nhất là trong các việc như: đơn giản hóa thủ tục gia nhập thị trường, xóa bỏ các loại “giấy phép con” không cần thiết; tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tư nhân trong tiếp cận đất đai, mở rộng mặt bằng…

Doanh nghiệp tư nhân chỉ có thể lớn mạnh không chỉ bằng tấm lòng của doanh nhân đối với công cuộc chấn hưng kinh tế đất nước, bằng ý chí và quyết tâm khắc phục khó khăn trong kinh doanh, mà điều có ý nghĩa quyết định, đó là sự đổi mới nhất quán trong thể chế, chính sách và sự quản lý, điều hành của cơ quan nhà nước.

Theo VŨ QUỐC TUẤN
Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần

  • TAG :