Khái niệm chung về đấu thầu

KHÁI NIỆM CHUNG VỀ ĐẤU THẦU



Thuật ngữ “đấu thầu” đã xuất hiện trong thực tế xã hội từ xa xưa. Theo Từ điển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học xuất bản năm 1998) thì đấu thầu được giải thích là việc “đọ công khai, ai nhận làm, nhận bán với điều kiện tốt nhất thì được giao cho làm hoặc được bán hàng (một phương thức giao làm công trình hoặc mua hàng)”. Như vậy bản chất của việc đấu thầu đã được xã hội thừa nhận như là một sự ganh đua (cạnh tranh) để được thực hiện một việc nào đó, một yêu cầu nào đó.

Trên thực tế đã tồn tại một số định nghĩa về thuật ngữ đấu thầu trong các văn bản khác nhau. Tuy nhiên, bản chất của thuật ngữ về đấu thầu dù dưới dạng Quy chế hay Luật cũng đều sử dụng một thuật ngữ có xuất xứ từ tiếng Anh là “Procurement” (nghĩa là mua sắm). Như vậy QCĐT, Luật Đấu thầu đồng nghĩa với Quy chế Mua sắm (Procurement Regulation) hoặc Luật Mua sắm (Law on Procurement).

Từ khi đất nước ta tiến hành công cuộc đổi mới, nền kinh tế đã mở cửa với thế giới thì bắt đầu xuất hiện khái niệm “đấu thầu”. Theo định nghĩa về thuật ngữ “đấu thầu” trong Luật Đấu thầu của Việt Nam thì đó là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của BMT để thực hiện gói thầu thuộc các dự án sử dụng vốn nhà nước. Kết quả của sự lựa chọn là có hợp đồng được ký kết với các điều khoản quy định chi tiết trách nhiệm của hai bên. Một bên là nhà thầu phải thực hiện các nhiệm vụ như nêu trong HSMT (có thể là dịch vụ tư vấn, cung cấp hàng hoá hoặc chịu trách nhiệm xây dựng một công trình...), một bên là chủ đầu tư có trách nhiệm giám sát, kiểm tra, nghiệm thu và thanh toán tiền. Như vậy thực chất của quá trình đấu thầu ở Việt Nam đối với các dự án sử dụng vốn nhà nước là một quá trình mua sắm- quá trình chi tiêu, sử dụng tiền của Nhà nước.

Cần phân biệt hai khái niệm “đấu thầu” và “đấu giá” vì chúng có nhiều nét trái ngược nhau, nhưng có lúc bị hiểu lẫn lộn như một khái niệm “đấu thầu”. Có người nói rằng “địa phương tôi đang tiến hành đấu thầu khu đầm nuôi tôm X” hoặc “trên Internet hiện đang tiến hành đấu thầu gói thầu mua 200 chiếc máy tính văn phòng”. Nói như vậy là chưa chuẩn xác. Hai ví dụ nêu trên xét về bản chất là hai hoạt động đấu giá và đấu thầu riêng biệt, nhưng lại được sử dụng ngôn ngữ đấu thầu trong thông báo. Hoạt động thứ nhất không phải là hoạt động đấu thầu vì người bán lại chính là người có khu đầm nuôi tôm. Đây chính là hoạt động đấu giá. Họ sẽ chọn người nào (bên mua) chào giá cao nhất (ngược với hoạt động đấu thầu). Hoạt động thứ hai mới là hoạt động đấu thầu. Người mua sẽ chọn được người bán máy tính văn phòng đảm bảo các tính năng kỹ thuật theo yêu cầu và có chi phí trên một mặt bằng thấp nhất và bảo đảm không vượt dự toán đã định. Sau đây là một số điểm lưu ý giúp ta phân biệt khái niệm đấu thầu và đấu giá.

1.      Hoạt động mua hay bán

Xét trên giác độ quan hệ mua- bán của chủ thể là Nhà nước, các cơ quan, tổ chức đại diện cho Nhà nước (bên chủ động tiến hành, tổ chức hoạt động đấu thầu hay đấu giá), có thể nói đấu thầu là hoạt động mua, ngược lại đấu giá là hoạt động bán. Trong đấu thầu, bên chủ động tổ chức cuộc thầu (BMT) là người mua hàng hoá, dịch vụ, công trình từ các nhà thầu. BMT chủ động tổ chức hoạt động đấu thầu nhằm mua được hàng hoá, dịch vụ có chất lượng tốt nhất, giá cả thấp nhất, đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật, chất lượng, và tiến độ đề ra. Trong đấu giá, bên chủ động tổ chức phiên đấu giá nhằm bán được hàng hoá, dịch vụ của mình với giá cao nhất có thể.

2.      Về đối tượng mua và bán

Trong đấu giá đối tượng bán là rõ ràng, người mua có thể kiểm tra, đánh giá trước khi đưa ra giá mua. Nhưng ngược lại, trong đấu thầu, đối tượng chào bán của nhà thầu là chỉ có trên hồ sơ và BMT chỉ có được sản phẩm định mua sau khi nhà thầu thực hiện xong hợp đồng đã ký.

3.      Xét trên giác độ giá cả

Đấu thầu cần thiết phải có sự khống chế về giá (trừ trường hợp đặc biệt), được gọi là giá gói thầu hay dự toán. BMT (bên mua) mua hàng hoá, dịch vụ của người bán (nhà thầu) đảm bảo yêu cầu nhưng trong giới hạn về nguồn lực tài chính của họ, nhà thầu đưa ra giá cao hơn khả năng tài chính của chủ thể, thì dù có tốt đến mấy nếu BMT không thể thu xếp được thì cũng không thể trúng thầu vì vượt khả năng thanh toán của BMT. Nhà thầu nào đáp ứng các yêu cầu của BMT, mà có giá bán càng thấp (tính trên một mặt bằng chi phí) thì sẽ càng có cơ hội chiến thắng. Trái lại, đấu giá cần thiết phải khống chế giá thấp nhất khi các bên tham gia đặt giá, được gọi là giá sàn. Sở dĩ như vậy là vì giá mà các bên tham gia đưa ra phải đủ bù đắp những chi phí giới hạn của chủ thể. Ai đưa ra giá cao hơn sẽ là người chiến thắng trong phiên đấu giá.

4.      Đặt cọc tham dự mua và bán

Trong đấu thầu, để mua được dịch vụ, hàng hoá, công trình của người bán (nhà thầu) thường phải qua hai giai đoạn là đấu thầu để chọn được nhà thầu phù hợp nhất và giai đoạn thương thảo, hoàn thiện hợp đồng và ký hợp đồng. Chính vì lẽ đó, khi đấu thầu để xác định trách nhiệm của nhà thầu đối với gói thầu người ta quy định hai lần đặt cọc: đặt cọc khi tham dự thầu (bảo đảm dự thầu) và đặt cọc thực hiện hợp đồng (bảo đảm thực hiện hợp đồng). Đối với đấu giá, người tham dự chỉ cần đặt cọc một lần để xác định trách nhiệm khi tham dự đấu giá.

 

  • TAG :

Danh mục

Loading...

Bài nổi bật