Nhà thầu có vi phạm điều kiện tiên quyết ?

Nhà thầu có vi phạm điều kiện tiên quyết ?

 



Trong 1 hồ sơ mời thầu mua sắm HH có 1 trong số các nhà thầu nằm trong trường hợp sau đây thì có thể coi là vi phạm điều kiện tiên quyết và bị loại hay không?

 

Nhà thầu có bảo lãnh dự thầu của Ngân hàng (125 ngày) dài hơn so với thời gian yêu cầu trong hồ sơ mời thầu (120 ngày) cụ thể có giá trị kể từ thời điểm đóng thầu là từ 9 giờ ngày 10/10/2009 đến hết ngày 11/02/2010, so ra thì thời gian đến 125 ngày. Tuy nhiên trong hồ sơ mới thầu có nêu là nếu ghi ngày thì phải ghi ngày liền kề trước đó tức là ngày ghi có giá trị kể từ ngày 9/10/2009. Ở đây Ngân hàng lại ghi có giá trị từ ngày 10/10/2009 đến hết ngày 11/02/2010, đây là lỗi của Ngân hàng chứ đâu phải do nhà thầu ghi. Như vậy hồ sơ này có bị vi phạm hay không?

Trả lời:

            Vấn đề “hiệu lực của Bảo lãnh dự thầu” mặc dù được đề cập trong Luật Đấu thầu, NĐ và trong Mẫu HSMT nhưng vẫn có nhiều tình huống cần được bàn luận để cùng hiểu thấu đáo về vấn đề này:

            Trước hết Bảo lãnh dự thầu dưới dạng 1 khoản tiền nào đó (theo yêu cầu trong HSMT) là 1 hình thức gắn trách nhiệm của NT với HSDT đã nộp. Tránh tình trạng NT được trúng thầu nhưng không ký HĐ. Hiệu lực của Bảo lãnh dự thầu chính là thời gian tối thiểu mà NT có trách nhiệm với HSDT đã nộp của mình. Chẳng hạn, trong HSMT yêu cầu “Hiệu lực của Bảo lãnh dự thầu” là 100 ngày và NT cũng đáp ứng yêu cầu này thì có nghĩa là với HSDT đã nộp trong khoảng thời gian kể từ thời điểm đóng thầu đến 100 ngày sau đó NT phải có trách nhiệm với HSDT đã nộp, nếu được tuyên bố trúng thầu, được mời vào thương thảo, hoàn thiện HĐ thì phải vào và nếu NT từ chối yêu cầu đó của BMT thì sẽ không được nhận lại bảo lãnh dự thầu.

            Với ý nghĩa như vậy trong HSMT khi nêu yêu cầu về thời gian có hiệu lực của HSDT thì nên yêu cầu rõ ví dụ thời gian có Hiệu lực của HSDT tối thiểu là 100 ngày kể từ thời điểm đóng thầu”

            Trở lại tình huống nêu trên thì có 3 vấn đề:

            1. Quy định trong HSMT là “nếu ghi ngày thì phải ghi ngày liền kề trước đó”. Cụ thể thời điểm đóng thầu là ngày 10/10 thì thời gian có hiệu lực của Bảo lãnh dự thầu phải ghi từ ngày 09/10.

            Yêu cầu này của HSMT là vượt ra ngoài qui định trong Luật Đấu thầu, NĐ và Mẫu HSMT, theo qui định thời gian có hiệu lực của Bảo lãnh dự thầu tính từ thời điểm đóng thầu (tức thuộc ngày đóng thầu chứ không phải ngày trước liền kề).

            2. Nêu trong HSMT qui định thời gian có hiệu lực của Bảo lãnh dự thầu là 120 ngày tính từ thời điểm đóng thầu (tức yêu cầu tối thiểu là 120 ngày) thì HSDT được đề cập trong tình huống trên có thời gian tới 125 ngày là quá đáp ứng.

            3. Theo Luật Đấu thầu (Đ4 K24) thì HSMT là cơ sở pháp lý chẳng những cho NT để chuẩn bị HSDT mà còn cho BMT sử dụng để đánh giá HSDT. Vì vậy nếu yêu cầu trong HSMT là phải ghi thời gian có hiệu lực của Bảo lãnh dự thầu từ ngày liền kề trước ngày đóng thầu thì sau khi mời thầu BMT sẽ loại NT không đáp ứng yêu cầu này vì đây là 1 trong những điều kiện tiên quyết của HSMT.

            Mặc dù qui định như vậy là không phù hợp với qui định, nhưng NT trong quá trình chuẩn bị “HSMT phải yêu cầu BMT làm rõ nội dung này, nêu kiến nghị đối với những hoạt động như vậy.  Do đó sau khi mở thầu thì HSMT với các yêu cầu như trên lại là cở sở để đánh giá HSDT

            Bài học chung là:

            - BMT, Chủ đầu tư, TV viết HSMT cần hiểu thấu đáo và quán triệt các quy định trong Luật, NĐ và Mẫu HSMT, không đưa ra các yêu cầu mang tính chất vượt quá yêu cầu theo quy định.

            - NT cũng phải nắm chắc các quy định và cần hiểu rằng HSMT là “ Luật thu nhỏ cho gói thầu “ cho rằng cần thực hiện quyền yêu cầu làm rõ HSMT, quyền nêu kiến nghị để chỉnh sửa những yêu cầu không phù hợp trong HSMT (có thể là do chủ quan hay cố tình)./.

Ngày 06/3/2009

TS. Nguyễn Việt Hùng

  • TAG :

Danh mục

Loading...

Bài nổi bật