Nội dung chính của luật đấu thầu

 21 điều của Luật Đấu thầu được sửa đổi, bổ sung trong Luật Sửa đổi bao gồm: Khoản 30 và khoản 39 Điều 4; Điều 11; Điều 12; Điểm c, điểm đ khoản 1 và khoản 3 Điêu 20;



 khoản 1 và khoản 3 Điều 29; khoản 5 Điêù 31; điểm a khoản 1 Điều 32; khoản 2 Điều 33; điểm b khoản 2 Điều 35; khoản 4 Điều 38; Điều 39; khoản 1 Điều 40; khoản 1 Điều 41; khoản 3 Điều 42; khoản 2 Điều 43; Điều 46; khoản 2 và khoản 3 Điều 57; Điều 60; Điều 61; Điểm c khoản 1 Điều 70; điểm a và điểm c khoản 1 Điều 75 Luật sửa đổi được Quốc hội thông qua ngày 29/06/2009 tại Kỳ họp thứ 5 QH khóa XII ( luật số 38/2009/QH12) và được Chủ tịch nước ký lệnh công bố ngày 29/06/2009 ( lệnh số 15/2009/L-CTN). Theo đó, 21 điều trong Luật Đấu thầu đã được sửa đổi, bổ sung Điều 2 của Luật sửa đổi.

     1.Về đảm bảo cạnh tranh trong đấu thầu, quy định tại điều a khoản 1 Điều 11 Luật đấu thầu đã được bãi bỏ và quy định tại Khoản 2 Điều này  đã được sửa đổi. Như vậy, với quy định tại khoản 2 Điều 2 Luật sửa đổi thì pháp luật hiện hành đã không cấm: - Nhà thầu lập báo cáo nghiên cứu khả thi (F/S) tham gia đấu thầu cung cấp dịch vụ tư vấn lập thiết kế kỹ thuật (TKKT) của dự án; nhà thầu tư vấn đã tham gia TKKT của dự án tham gia đấu thầu các bước tiếp theo.

      Bên cạnh đó, quy định về lộ trình thực hiện đảm bảo cạnh tranh trong đấu thầu tại Khoản 2 Điều 11 Luật đấu thầu “chậm nhất là 3 năm” theo lộ trình do Chính phủ quy định, kể từ khi Luật Đấu thầu có hiệu lực (1/4/2006) đã được sửa đổi. Theo đó, tại Khoản 2 Điều 2 Luật sửa đổi đã quy định :” Chính phủ quy định cụ thể về bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu “ nhằm tạo thuận lợi cho việc thực thi các quy định này trong bối cảnh nước ta hiện nay, mà chủ yếu là do lộ trình cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước bị chậm hơn so với dự kiến ban đầu.

     2. Về chỉ định thầu, quy định tại điểm c,đ khoản 1 và khoản 3 Điều 20 Luật đấu thầu  đã được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 4 Điều 2 luật sửa đổi. Theo đó, QH đã giao cho Chính phủ quy định cụ thể về hạn mức chỉ định thầu nhằm tạo sự linh hoạt trong quá trình áp dụng, thực thi; đồng thời cũng quy định rõ việc áp dụng chỉ định thầu phải đảm bảo hiệu quả hơn đấu thầu nhằm hạn chế việc lạm dụng chỉ định thầu.

     3. Về phân cấp trong đấu thầu, quy định về:” trách nhiệm của người có thẩm quyền” tại Điều 60; về “ quyền và nghĩa vụ của chủ đầu tư” tại Điều 61 và về thẩm quyền” xử lý tình huống trong đấu thầu” tại Điểm c Khoản 1 Điều 70 của Luật Đấu thầu đã được sửa đổi, bổ sung tại các khoản 18,19 và 20 của Luật sửa đổi.

     4. Chế tài xử lý vi phạm trong đấu thầu đã được quy định chặt chẽ hơn.Quy định về hành vi bị cấm trong đấu thầu tại Điều 12 Luật đấu thầu đã được bổ sung tại Khoản  Điều 2 Luật sửa đổi. Hai hành vi bị cấm được bổ sung gồm: “ Bên mời thầu không bán hồ sơ mời thầu cho nhà thầu theo thời gian được xác định tại thông báo mời thầu, thư mời thầu” và “ Sử dụng lao động nước ngoài khi lao động trong nước có đủ khả năng thực hiện và đáp ứng yêu cầu thực hiện gói thầu”. Quy định về xử lý vi phạm trong đấu thầu tại Điều 75 Luật Đấu thầu cũng đã được sửa đổi, bổ sung. So với luật Đấu thầu thì Luật sửa đổi ( khoản 21 Điều 2) đã bổ sung thêm 4 hành vi cụ thể sẽ bị xử lý vi phạm về đấu thầu gồm 3 hành vi bị cấm tham gia đấu thầu.

     5. Về sơ tuyển, quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 32 Luật đấu thầu đã được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 7 Điều 2 Luật sửa đổi. Hạn mức bắt buộc áp dụng sơ tuyển quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 32 Luật đấu thầu: từ 300 tỷ đồng trở lên đối với gói thầu mua sắm hàng hóa, gói thầu EPC; từ 200 tỷ đồng trở lên đối với gói thầu xây lắp đã được bãi bỏ. Với quy định mới của Luật sửa đổi thì việc có sơ tuyển nhà thầu trước khi tổ chức đấu thầu rộng rãi hay không sẽ do người quyết định đầu tư cân nhắc lựa chọn căn cứ trên quy mô và tính chất của gói thầu.

     Ngoài ra, một số nội dung khác trong Luật đấu thầu cũng đã được sửa đổi, bổ sung trong luật sửa đổi.Theo ban soạn thảo Luật sửa đổi thì quan điểm chỉ đạo sửa đổi Luật đấu thầu là nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính trong đấu thầu, tháo gỡ khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện, tăng cường hơn nữa việc phân cấp gắn với trách nhiệm, đi đôi với tăng cường giám sát, hậu kiểm, quy định chế tài xử lý vi phạm về đấu thầu chặt chẽ hơn; đẩy nhanh tiến độ thực hiện đấu thầu; phù hợp với điều kiện trong nước, tăng cường hài hòa thủ tục với các nhà tài trợ.

      Cùng với việc sửa đổi, bổ sung 21 điều trong Luật Đấu thầu và một số điều của 4 Luật khác gồm Luật Xây dựng, Luật Doanh nghiệp, luật Đất đai và Luật Nhà ở, Luật sửa đổi sớm được ban hành và chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1/8/2009 được kỳ vọng sẽ góp phần quan trọng trong việc đơn giản hóa thủ tục  hành chính trong đầu tư xây dựng cơ bản, gỡ nút chồng chéo giữa các Luật liên quan, đồng thời thúc đẩy tiến độ thực hiện, giải ngân dự án và góp phần thực hiện tốt hơn nữa chủ trương kích cầu đầu tư của Chính phủ.

  • TAG :

Danh mục

Loading...

Bài nổi bật