Thời điểm ghi trong Bảo lãnh dự thầu

 Thời điểm ghi trong Bảo lãnh dự thầu


Trong một cuộc đấu thầu một Nhà thầu có bảo lãnh dự thầu của Ngân hàng là 120 ngày so với thời gian trong hồ sơ mời thầu là (120 ngày), tức là có giá trị kể từ thời điểm đóng thầu là từ 9 giờ ngày 10 tháng 10 năm 2009 đến 09 giờ ngày 07/02/2010 là đúng 120 ngày. Nhưng ngân hàng lại ghi là có giá trị từ 09 giờ ngày 10 tháng 10 năm 2009 đến hết ngày 06/02/2010, so ra thì đến hết ngày 06/02/2010 là vẫn còn thiếu 09 giờ (phải đến 09 giờ ngày 07/02/2010 mới đủ ngày). Tuy nhiên trong hồ sơ tham dự của Nhà thầu này, trong Bảo lãnh dự thầu của Ngân hàng có ghi là thời gian thực hiện bảo lãnh dự thầu có giá trị trong vòng 120 ngày kể từ 09 giờ ngày 10/10/2009 còn việc liệt kê thêm thời gian đến hết ngày 06/02/2009 là do Ngân hàng liệt kê thêm vì trong Hồ sơ mời thầu không có yêu cầu liệt kê cụ thể thời gian, ngày kết thúc của giá trị hồ sơ dự thầu. Như vậy thì hồ sơ này có bị vi phạm hay không?

Trả lời:

            Theo Luật đấu thầu (Đ4 khoản 24) HSMT là căn cứ pháp lý để đánh giá HSDT, HSMT bao gồm các yêu cầu cho một gói thầu, có những nội dung được gọi là yêu cầu quan trọng (điều kiện tiên quyết) để loại bỏ HSDT nếu HSDT không đáp ứng, có những nội dung trong HSMT được đánh giá bằng tiêu chuẩn đánh giá (dưới dạng thang điểm hoặc tiêu chí đạt/không đạt). Thời gian có hiệu lực của bảo lãnh dự thầu thuộc các yêu cầu quan trọng mà HSDT không đáp ứng thì sẽ bị loại ngay. Về khía cạnh thời gian thì bảo lãnh dự thầu gồm 2 nội dung: Thời điểm bắt đảm và quãng thời gian có hiệu lực .

            Trở lại tình huống nêu trên thấy như sau:

-         Về thời điểm: Bảo lãnh dự thầu hoàn toàn đáp ứng vì có hiệu lực từ thời điểm đóng thầu là 9 giờ ngày 10/10/2009 (như yêu cầu nêu trong HSMT)

-         Về quãng thời gian: Theo HSMT yêu cầu là 120 ngày. Nếu tính chi li theo toán học thì thời gian có hiệu lực còn thiếu 9 giờ mà đảm bảo đủ 120 ngày với mỗi ngày là 24 giờ.

Khái niệm này hoàn toàn đúng theo quy định về đấu thầu. Nhưng tại NĐ85/CP (Đ2 khoản 8) đưa ra quy định linh hoạt hơn, cụ thể số ngày có hiệu lực (120 ngày như yêu cầu) là số ngày tính từ ngày đóng thầu ( từ thời điểm đóng thầu 9 giờ tới 24 giờ của ngày đóng thầu là 24 giờ ngày 10/10/2009) đến 24 giờ của ngày cuối cùng có hiệu lực được quy định trong HSMT.

Trong mẫu HSMT (MSHH, XL) do Bộ KH&ĐT ban hành (TT01, TT05/BKH) theo NĐ85/CP có đưa ví dụ:

Khi thời gian có hiệu lực là 30 ngày từ 10giờ ngày 01/12 thì nghĩa là Nhà thầu phải đảm bảo khi 30 ngày này tới 24 giờ ngày 30/12.

Với quy định như vậy thì trong tình huống nêu ở trên, HSDT đó có thời gian hiệu lực là đáp ứng yêu cầu của HSMT.

Tuy nhiên để đơn giản thì trong HSMT và trong HSDT chỉ nên ghi “hiệu lực là x ngày (theo yêu cầu) tính từ thời điểm đóng thầu”. Đừng đưa ra những sự phức tạp không cần thiết./.

Ngày 08/3/2010

TS. Nguyễn Việt Hùng

  • TAG :

Danh mục

Loading...

Bài nổi bật