Tình huống đấu thầu- Xử lý chuyển tiếp đối với dự án thực hiện dở dang

Dự án của đơn vị A là chủ đầu tư đã được phê duyệt kế hoạch đấu thầu trong tháng 02/2014. Tính đến hết ngày 30/6/2014, Dự án đã tổ chức lựa chọn nhà thầu được 03 gói thầu với tiến độ thực hiện như sau:


 - Gói thầu số 1 và 2 đã phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu;


 - Gói thầu số 3 đã phê duyệt hồ sơ mời thầu và đăng thông báo mời thầu đấu thầu rộng rãi trên Báo Đấu thầu nhưng chưa phát hành hồ sơ mời thầu.


Hỏi:


Từ ngày 01/7/2014, Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 đã có hiệu lực thi hành nhưng đến ngày 15/8/2014 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP mới có hiệu lực thi hành. Vậy, Chủ đầu tư A sẽ thực hiện chuyển tiếp như thế nào đối với 03 gói thầu nêu trên để bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật đấu thầu?


Trả lời:


 Để xử lý đối với tình huống Chủ đầu tư A nêu ra, Chính phủ đã có quy định về hướng dẫn thi hành tại Điều 129 của Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 và Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành Văn bản số 4054/BKHĐT-QLĐT ngày 27/6/2014. Theo đó, để thuận tiện cho Chủ đầu tư A thực hiện Dự án đảm bảo tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật đấu thầu, cách xử lý đối với từng gói thầu thuộc Dự án cần được thực hiện như sau:


Đối với Gói thầu số 1 và 2: Chủ đầu tư A đã phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu


Theo quy định tại Nghị định số 63/2014/NĐ-CP (Điều 129 Khoản 1), đối với hồ sơ mời quan tâm, hồ sơ mời sơ tuyển, hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu được phát hành trước ngày 01/7/2014 thì thực hiện theo quy định của Luật Đấu thầu số 61/2005/QH11 (gọi tắt là Luật Đấu thầu năm 2005), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản số 38/2009/QH12, Nghị định số 85/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009, Nghị định số 68/2012/NĐ-CP ngày 12/9/2012 của Chính phủ, Quyết định số 50/2012/QĐ-TTg ngày 09/11/2012 của Thủ tướng Chính phủ và các thông tư liên quan.


Như vậy, do Gói thầu số 1 và 2 đã phát hành hồ sơ mời quan tâm hoặc hồ sơ mời sơ tuyển (trường hợp có bước lựa chọn danh sách ngắn); hồ sơ mời thầu trước ngày 01/7/2014 (ngày có hiệu lực của Luật Đấu thầu năm 2013) nên việc tổ chức lựa chọn nhà thầu, ký kết và quản lý hợp đồng thực hiện theo các quy định “cũ” như nêu trên. Đối với trường hợp này, Chủ đầu tư A đơn thuần tuân thủ theo quy định của Luật Đấu thầu năm 2005, Luật sửa đổi năm 2009 và các văn bản hướng dẫn liên quan, mà không phải tuân thủ các quy định “mới” của Luật Đấu thầu năm 2013, Nghị định số 63/2014/NĐ-CP.


2. Đối với Gói thầu số 3: đã phê duyệt hồ sơ mời thầu và đăng thông báo mời thầu trên Báo Đấu thầu nhưng chưa phát hành hồ sơ mời thầu


Theo quy định tại Khoản 1 Điều 129 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP, đối với những gói thầu đã phê duyệt kế hoạch đấu thầu nhưng đến ngày 01/7/2014 chưa phát hành hồ sơ mời quan tâm, hồ sơ mời sơ tuyển, hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu, nếu không phù hợp với Luật Đấu thầu năm 2013 thì phải phê duyệt điều chỉnh kế hoạch đấu thầu.


Hồ sơ mời thầu chỉ được phát hành khi kế hoạch lựa chọn nhà thầu được phê duyệt, hồ sơ mời thầu được phê duyệt, thông báo mời thầu được đăng tải theo quy định của Luật Đấu thầu năm 2013 và đáp ứng các điều kiện khác quy định tại Khoản 1 Điều 7 Luật Đấu thầu năm 2013. Theo đó, Gói thầu số 3 chưa phát hành hồ sơ mời thầu trước ngày 01/7/2014 nên phải tuân thủ quy định tại Khoản 1 Điều 129 nêu trên; tức là chủ đầu tư phải rà soát lại kế hoạch đấu thầu đã phê duyệt bao gồm nội dung chính là nguồn vốn, hình thức và phương thức lựa chọn nhà thầu, hình thức hợp đồng để xem xét có nội dung nào không phù hợp với quy định của Luật Đấu thầu năm 2013 hay không. Đây là những quy định có sự thay đổi so với quy định của Luật Đấu thầu năm 2005, cụ thể như sau:


Thứ nhất về nguồn vốn, Luật Đấu thầu năm 2013 (Điều 4 Khoản 44) có quy định rõ hơn về khái niệm vốn nhà nước so với Luật Đấu thầu năm 2005, do đó căn cứ theo quy định mới này cần xác định lại Dự án của Chủ đầu tư A có thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Đấu thầu năm 2013 hay không, từ đó trình người có thẩm quyền quyết định việc lựa chọn áp dụng Luật Đấu thầu năm 2013.


Thứ hai, đối với hình thức và phương thức lựa chọn nhà thầu, có nhiều nội dung được sửa đổi, bổ sung so với quy định trong Luật Đấu thầu năm 2005, trong đó đặc biệt lưu ý đối với quy định về các trường hợp được áp dụng hình thức chỉ định thầu (thu hẹp các trường hợp được áp dụng chỉ định thầu), chào hàng cạnh tranh (bổ sung áp dụng đối với gói thầu xây lắp công trình đơn giản đã có thiết kế bản vẽ thi công được phê duyệt), mua sắm trực tiếp (quy định rõ quy mô gói thầu có nội dung, tính chất tương tự; thời hạn gói thầu đủ điều kiện áp dụng mua sắm trực tiếp) và tham gia thực hiện của cộng đồng (là hình thức lựa chọn nhà thầu mới bổ sung vào Luật); phương thức một giai đoạn một túi hồ sơ (trường hợp là gói thầu quy mô nhỏ), một giai đoạn hai túi hồ sơ (trường hợp gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp không phải quy mô nhỏ), hai giai đoạn hai túi hồ sơ (trường hợp gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp có kỹ thuật, công nghệ mới, phức tạp, có tính đặc thù).


Thứ ba là hình thức hợp đồng, Luật Đấu thầu năm 2013 bỏ quy định về hình thức hợp đồng theo tỷ lệ phần trăm và tách hình thức hợp đồng theo đơn giá thành 2 loại hợp đồng là hợp đồng theo đơn giá cố định và hợp đồng theo đơn giá điều chỉnh; đồng thời quy định rõ các trường hợp bắt buộc áp dụng loại hợp đồng trọn gói.


Như vậy, căn cứ các quy định nêu trên, trường hợp Chủ đầu tư A rà soát lại kế hoạch đấu thầu đã phê duyệt thấy có nội dung không phù hợp với quy định của Luật Đấu thầu năm 2013 thì cần trình người có thẩm quyền phê duyệt điều chỉnh kế hoạch đấu thầu đảm bảo tuân thủ quy định trong Luật Đấu thầu năm 2013. Quyết định điều chỉnh này là cơ sở pháp lý để Chủ đầu tư A phê duyệt điều chỉnh hồ sơ mời thầu và gia hạn thời điểm đóng thầu đảm bảo phù hợp với quy định của Luật Đấu thầu năm 2013. Nếu rà soát mà thấy các nội dung trong kế hoạch đấu thầu đã phê duyệt không có nội dung không phù hợp với Luật Đấu thầu năm 2013 thì thực hiện ngay quá trình đấu thầu rộng rãi theo quy định.

  • TAG :

Danh mục

Loading...

Bài nổi bật